SỐNG LÀM VỢ KHẮP NGƯỜI TA

      170

Bình luận câu thơ “Đau đớn thay phận đàn bà, Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” (2)

Lớp 9 » Truyện Kiều của Nguyễn Du


Bạn đang xem: Sống làm vợ khắp người ta


Xem thêm: Bài Văn Mẫu Số 2 Tả Bạn Thân Của Em Lớp 6 Hay Chọn Lọc, Bài Văn Mẫu Số 2 Tả Bạn Thân Của Em

Xưa nay biết bao người đã say mê, yêu thích Truyện Kiều. Nguyên nhân của sự say mê đó có lẽ trước hết là do tài nghệ của Nguyễn Du, như Đào Nguyên Phổ nhận xét: “mực muốn múa, bút muốn bay, văn muốn nhảy, chữ muốn nói khiên người cười, khiến người khóc, khiến người đọc đi đọc lại hàng nghìn lần, càng thuộc long lại càng không thấy chán.” Người ta còn say mê vì Nguyễn Du có tấm long nhân đạo cao cả, có những nhận xét sâu sắc về cuộc đời, số phận con người, đặc biệt là những người phụ nữ.Đau đớn thay phân đàn bàLời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.Đó là hai câu thơ Nguyễn Du viết trong Truyện Kiều. Sau khi tác giả đã chứng kiến “những điều trông thấy”. Đó là một tiếng kêu xé lòng thấm đầy nước mắt. Quả thật không ai có thể đau đớn xót xa hơn những người sinh ra làm phận má hồng trong thời phong kiến. Nỗi đau đớn không chỉ do nghèo khổ hay thiếu thốn vật chất. Nỗi đau đớn chủ yêu là bị khinh rẻ, chà đạp nhân phẩm, bị giày vò về tinh thần khi hạnh phúc tan nát, tình yêu lỡ dở... Nguyên nhân gây ra đau khổ chính là xã hội phong kiến gia trưởng trọng nam khinh nữ. Xã hội ấy đã trói buộc người phụ nữ bằng “tam tòng”, đã coi thường họ bằng những quan niệm định kiến bất công “nữ nhi nan hoá”, “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”. Trong xã hội như vậy người phụ nữ tránh sao khỏi cuộc sống đau đớn xót xa. Nếu nói về tài sắc thì Đạm Tiên là một người rất đẹp.Nối danh tài sắc một thìXôn xao ngoài cửa hiếm gì yến anh.Thế mà đời Đạm Tiên là đời ca nhi ê chề đau đớn:Sống làm vợ khắp người taHại thay thác xuống làm ma không chồng.Sau khi chết rồi, nấm mồ của Đạm Tiên cũng là một nấm mồ vô chủ, cô đơn hoang lạnh:Sè sè nấm đất bên đườngRầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.Đâu chỉ có một mình Đạm Tiên. Thuý Kiều xinh đẹp, tài sắc ai bì, thông minh hết mực cũng chịu cảnh đánh đập chửi bới, “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần” suốt mười lăm năm lưu lạc, đoạn trường. Mười lăm năm của một đời con gái mất đi tình yêu ban đầu tươi đẹp, mất đi trinh tiết ngàn vàng và cũng có lúc nàng mất đi cả cuộc sống của mình. Hết Mã Giám Sinh gian xảo, đến Sở Khanh trâng tráo rồi đến Hồ Tôn Hiến dâm ô. Từ mụ Tú Bà “nhờn nhợt màu da”. đến Hoạn Thư “sắc xảo nước đời”, ngay cả Bạc Bà, Bạc Hạnh... tất cả là một cái lưới quây tròn vây toả kín mít xung quanh nàng Kiều đang vùng vẫy trong khổ đau tuyệt vọng. Cả cái xã hội ấy từ bọn lưu manh đén bọn buôn thịt bán người và cả tầng lớp thống trị, những quan bà, quan ông cùng hè nhau dìm Kiều xuống bùn đen. Chúng muốn giết chết những tài năng, sắc đẹp như nàng. Nàng muốn yên phận làm vỡ lẽ cũng không được, muốn sống yên lành gần gũi mẹ cha cũng không xong.Mấy lần lấy chồng rồi cuối cùng nàng cũng phải tìm đến cái chết, trầm mình trên song Tiền Đường để chấm dứt khổ đau.Câu thơ của Nguyễn Du không phải là một nhận xét lạnh lùng khách quan, mà là tiếng kêu như xé lòng người. Đây là lời nhận xét của Thuý Kiều khi nghe chuyện Đạm Tiên, nhưng cũng có thể coi là suy nghĩ của tác giả về thân phận của những người phụ nữ. Đó không chỉ bao hàm ý xót thương mà còn là lời tố cáo đanh thép về sự tàn bạo của chế độ phong kiến.Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chungCùng chung số phận với nàng Kiều, cũng phải tìm đến cái chết là Vũ Nương của Nguyễn Dữ ở thế kỉ XVI trước đây. Người phụ nữ xinh đẹp đứng đắn trong Người con gái Nam Xương gặp nỗi bất hạnh đầu tiên là lấy phải người chồng tính tình đa nghi, gia trưởng, đã thế lại ít học. Nàng phải chịu lệ thuộc vè kẻ khác hoàn toàn – chồng nàng. Bao nhiêu khó khăn vất vả trong ba năm chồng đi lình nàng đã chịu được tất cả. Nhưng nàng lại không thể chịu được sự đay nghiến, nghi ngờ mù quáng của người chồng cục cằn, thô lỗ. Nếu nàng Kiều chịu nỗi đau phải dứt bỏ mối tình đầu thì nàng lại phải chịu nỗi oan cho chính chồng, con gây ra. Đau đớn phẫn uất, nàng gieo mình trên bến Hoàng Giang, để lại hận nghìn đời. Sau này Lê Thánh Tông có viết bài Miếu vợ chàng Trương nói lên số phận đau đớn của nàng.Nghi ngút đầu ghềnh toả khói hươngMiếu ai như miếu vợ chàng TrươngBóng đèn dầu nhẫn đừng nghe trẻ
Cung nước chi cho luỵ tới nàng.Đau đớn không kém là số phận của người phụ nữ trong thơ của Bà chúa thơ Nôm. Những người phụ nữ phải sống trong cảnh lấy lẽ thật cay đắng:Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùngChém cha cái kiếp lấy chồng chungHọ xinh đẹp, thông minh nhưng cuộc sống phụ thuộc, vất vả “ba chìm bảy nổi chin lênh đênh”.Bảy nổi ba chìm với nước nonRắn nát mặc dầu tay kẻ nặn.Nói chung họ bị đè nén, áp bức, họ bị đối xử bất công. Ngang tàng, cứng cỏi như Hồ Xuân Hương, đấu tranh không mỏi mệt, nhưng có lúc phải buột miệng ao ước “Ví đây đổi phận làm trai được”. Muốn làm phận con trai vì phận đàn bà bao giờ cũng đau khổ, bị coi thường.Ngoài ra ta còn gặp người phụ nữ sống cô đơn trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, hay người phụ nữ xa chồng mòn mỏi trong nhớ thương (Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm ), người phụ nữ nghèo khổ với những đứa con nheo nhóc trong Sở kiến hành của Nguyễn Du, tất cả những người phụ nữ ấy đều sống trong đau khổ, nô lệ, bị xã hội đày đoạ. Song như những bông sen nở trong bùn lầy, họ vẫn giữ được “tấm lòng son”, giữ được hương thơm ngát của mình.Nguyễn Du nói rất đúng và chính xác về số phận phụ nữ trong xã hội nam quyền phong kiến trước kia. Lời nhận xét như chính tâm huyết của tác giả trào ra đầu ngọt bút. Đó là nhận xét bằng con mắt trông cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời.Đã mấy trăm năm trồi qua, Nguyễn Du đã trở về với cát bụi, không kịp chứng kiến đổi đời và sự vùng lên đấu tranh của người phụ nữ. Giờ đây người phụ nữ đã đứng lên đòi quyền sống, đòi quyền bình đẳng và họ đã đạt được mơ ước của mình. Người con gái Bắc Giang cũng sát cánh với con trai phá đường chặn giặc:Em là con gái Bắc GiangRét thì mặc rét, nước làng em loNgười phụ nữ chờ chồng trong Thăm lúa đã biến nỗi nhớ mong manh thành những vụ mùa say hạt nặng bông, giật giải thi đua cùng người tiền phương. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ có bao nhiêu phụ nữ gánh vác việc “ba đảm đang” họ “giỏi tay cày, chắc tay súng”. Phận đàn bà bây giờ không đau đớn nữa mà đang hạnh phúc nở hoa.Nguyễn Du từng khóc cho những nàng Kiều, cho những người phụ nữ và cho cả chính mình.Ba trăm năm lẻ về sau nữaThiên hạ ai còn khóc Tố Như?Nhưng Nguyễn Du ơi xin hãy vui lên, hãy ngậm cười nới chin suối. Những nàng Kiều ngày xưa của ông đã hết đau khổ rồi. Họ không phải là những người “nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa” nữa. Dù không còn đúng hoàn toàn trong xã hội ngày nay, nhưng lời nhận xét của Nguyễn Du vẫn là một tấm lòng đầy ưu ái cảm thông với những người phụ nữ.
cf68